11 Bài Thuốc Đông Y Trị Chứng Bất Lực
Phúc Nguyễn WA sưu tầm
Chứng bất lực ở nam giới có nhiều biểu hiện: hoặc dương vật không
cương cứng do không ham muốn, hoặc có ham muốn nhưng không "lên"
được, hay có thể cương khi được kích thích nhiều, nhưng sau đó nhanh
chóng trở lại như cũ.
Bất lực hay là tình trạng suy giảm khả năng tình dục ở nam giới. Đây
là vấn đề tế nhị và nhạy cảm nên đàn ông thường giấu kín và âm thầm
chịu đựng. Nhưng thực ra đây là vấn nạn phổ biến ở nam giới. Một kết
quả nghiên cứu ở Đức cho thấy có tới 67% nam giới có vấn đề trục
trặc "của quý", còn ở Pháp và Mỹ con số này tới xấp xỉ 50%.
Theo Đông y, chứng bất lực được điều trị theo phép "bổ thận". Các
bài thuốc chữa liệt dương, xuất tinh sớm, di tinh... của Đông y đều
nhằm tác động đến tạng này.
Bài 1: Nhục thung dung 20g, thận dê 1 quả. Thận dê làm sạch
sau đó thái mỏng ướp mắm muối rồi cho nhục thung dung vào, đổ nước
vừa phải, hầm cách thủy một tiếng. Món ăn bổ thận khí, ích tinh
huyết, tráng dương. Người khoản kia ỉu, mỏi gối, đau lưng, tiểu tiện
ban đêm nhiều lần do thận hư gây nên ăn món này.. Cần ăn 7-14 ngày.
Bài
2: Tôm he 250g, rửa sạch ngâm vào rượu gạo 30 phút rồi lấy ra
xào với dầu gừng trên ngọn lửa mạnh, thêm gia vị phù hợp ăn với cơm,
món ăn này bổ thận tráng dương, cần ăn 7-14 ngày.
Bài 3: Tôm nõn 250g, rau hẹ 200g. Dùng dầu vừng xào to lửa,
khi chín cho thêm gia vị mắm muối vừa đủ rồi ăn với cơm. Cần ăn liên
tục 7 ngày. Tác dụng bổ thận tráng dương.
Bài 4: Gan dê 200g, rau hẹ 200g. Gan dê thái mỏng, cho dầu
vừng vào xào với rau hẹ. Khi xào dùng ngọn lửa mạnh, lúc chín cho
gia vị vừa đủ, ăn với cơm, ăn liền 7 ngày. Tác dụng ôn thận, cố
tinh, ích huyết, dưỡng gan cơ thể cường tráng, sinh lực dồi dào.
Bài 5: Đuôi lợn 250g, xuyên đoạn 250g, đỗ trọng 250g. Hầm
nhừ, ăn liên tục 7 ngày. Tác dụng bổ trong, ích khí, cương cử mạnh,
khỏi bệnh di tinh.
Bài 6: Khởi tử 50g, dương vật bò một bộ.
Dương vật bò rửa sạch, thái nhỏ cho vào nồi đất, đổ ít rượu trắng và
khởi tử vào rồi hầm cách thủy. Tác dụng: bổ thận tráng dương, chữa
khỏi bệnh di tinh, tiểu đêm nhiều lần, người già suy nhược.. Cần ăn
liên tục 7 ngày.
Bài 7: Thận dê một đôi, dái dê một cái, nhục thung dung 15g,
khởi tử 15g, ba kích 15g, sơn dược 15g, thục địa 15g, táo tàu 15g..
Cho vào nồi đất hầm cách thủy một tiếng. Tác dụng ích tinh, bổ
huyết, tráng dương, bổ thận khí, cơ thể cường tráng, tăng cường trí
nhớ.
Bài 8: Nhục thung dung 20g, thục địa 20g, tơ hồng 12g, sơn
thù du 15g, viễn chí 10g, sơn dược 10g, nhung hươu 0,6g, ngũ vị tử
6g. Sắc đặc lấy nước uống. Cần uống ít nhất 7 thang trong 7 ngày.
Riêng nhung hươu sau khi sắc được thuốc thì nuốt với nước thuốc. Tác
dụng: Cường dương ích khí, động phòng bất thống.
Bài 9: Hải mã 10g, tơ hồng 15g, sơn dược 15g, thục địa 15g,
dâm hương hoắc 15g. Sắc đặc uống 7 ngày mỗi ngày một thang. Tác
dụng: Bồi bổ thận khí, chữa bệnh cương cử kém, tiểu đêm nhiều lần.
Bài 10: Cà rốt 500g, thịt dê 500g. Hầm nhừ mỗi ngày ăn 1 lần,
ăn liền 7 ngày.
Bài 11: Cá chép một con 1 kg, vừng đen 1,5kg, gạo nếp 0,5kg.
Nấu cháo, ngày ăn một lần, ăn liên tục 7 ngày. Tác dụng bổ thận
tráng dương, mạnh khỏe, trẻ trung lâu dài.
Ngự Tửu Minh Mạng Thang
Toa thuốc này truyền tụng từ lâu ở Huế, được đồn là do vài vị ngự
y chép được. Trong sách Nguyễn triều cố sự ; Huyền thoại về Danh lam
xứ Huế ( 1996), tác giả Bửu Kế chép ra hai bài thuốc vua Minh Mạng
như sau theo tài liệu của Lương Y Tuệ Tâm:
I. Nhất dạ ngũ giao
Thành phần:
1- Nhục thung dung 12g
2- Táo nhân 8g
3- Xuyên Qui 20g
4- Cốt toái bổ 8g
5- Cam cúc hoa 12g
6- Xuyên ngưu tất 8g
7- Nhị Hồng sâm 20g
8- Chích kỳ 8g
9- Sanh địa 12g
10 -Thạch hộc 12g
11- Xuyên khung 12g
12- Xuyên tục đoạn 8g
13- Xuyên Đỗ trọng 8g
14- Quảng bì 8g
15- Cam Kỷ tử 20g
16- Đảng sâm 10g
17- Thục địa 20g
18 - Đan sâm 12 g
19- Đại táo 10 quả
20- Đường phèn 300 g
(Toa này có người nói là „Nhất dạ ngũ giao sinh lục tử“ nghĩa là có
một lần làm thụ thai... song sinh!!)
Cách ngâm:
Đường phèn để riêng, 19 vị thuốc trên đem ngâm với 3 lít rượu nếp
ngon trong 5 ngày đêm. ngày thứ sáu, nấu nửa lít nước sôi với 300 g
đường phèn cho tan ra, để nguội, rồi đổ vô thẩu, trộn đều đến ngày
thứ 10 thì đem ra dùng. Ngày 3 lần sáng, trưa , tối, mỗi lần 1 ly
trà. Dùng liên tục.
II. Nhất dạ lục giao
Thành phần:
1-Thục địa 40g
2- Đào nhân 20g
3-Sa sâm 20g
4- Bạch truật 12g
5 Vân qui 12g
6- Phòng phong 12g
7- Bạch thược 12g
8- Trần bì 12g
9-Xuyên khung 12g
10- Cam thảo 12g
11- Thục linh 12g
12- Nhục thung dung 12g
13- Tần giao 8g
14-Tục đoạn 8g
15- Mộc qua 8g
16- Kỷ tử 20g
17-Thường truật 8g
18-Độc hoạt 8g
19- Đỗ trọng 8g
20- Đại hồi 4g
21- Nhục quế 4g
22- Cát tâm sâm 20g
23- Cúc hoa 12g
24- Đại táo 10 quả
Cách ngâm:
24 vị thuốc trên ngâm với hai lít rưỡi rượu tốt trong vòng 7
ngày. Lấy 150 g đường phèn nấu với một xị nước sôi cho tan, để nguội
rồi đổ vô keo rượu thuốc, trộn đều, đến ngày thứ 10 đem dùng dần.
Ngày 3 lần, mỗi lần 1 ly nhỏ, sáng, trưa , chiều trước bữa ăn. Bã
thuốc còn lại ngâm nước hai với một lít rưỡi rượu ngon- một tháng
sau dùng tiếp.
Chủ trị:
Cả hai bài trên có tác dụng đại bổ thận, bồi bổ thần kinh, gia tăng
khí huyết, tăng cường sinh lực, mạnh gân cốt, bán thân bất toại,
dương sự kém, tăng tuổi thọ.
Vài nhận xét của người viết
Tôi mạn phép có vài nhận xét sau:
a- Trong hai bài thuốc, về cân lượng người ta dùng đơn vị Gramme
(g). Ngày xưa ở Trung quốc dùng cân (chin), lượng ( liang), phân
(fen). Nhưng ngay bây giờ, ở Trung quốc, người ta dùng những hệ
thống khác nhau về cân lượng như 16 lượng, 12 lượng, 10 lượng; thậm
chí ở các vùng quê hẻo lánh, người dân dùng hệ thống. 18 lượng, 20
lượng và 24 lượng.
Những ấn định về đo lường trong nhiều triều đại đã làm cho vấn đề
cực kỳ phức tạp. Kể từ năm 1979, miền Hoa lục đã chuyển theo hệ
thống thập phân (metric system) thay vì là hệ thống cân lượng, nên
trong nhiều sách thuốc in tại Hoa Lục , hệ thống trọng lượng được
thống nhất như sau, để dễ bề tính toán:
1 lượng = 30 g ( hiện nay chính xác hơn là 31 .25 g)
1 tiền = 3g
1 phân = 0.3g
Vậy về phân lượng trong 2 toa thuốc Minh Mạng thang trên, ta không
rõ lương y Việt Nam đã dựa vào toa nguyên gốc mà đổi ra gờ ram hay
phỏng chừng đổi theo cách thực dụng mới cho tiện việc cân khi mua
thuốc.
b- Trong toa Nhất dạ ngũ giao, những vị thuốc bắt buộc phải kén chọn
theo nguồn gốc sản xuất, vì các tên thuốc có kèm tên vùng thổ sản
như Tứ Xuyên, Cam túc, vùng Lưỡng Quảng, ví dụ chẳng hạn như phải
đòi hỏi thuốc từ Tứ Xuyên như Đương Qui, Ngưu Tất, Tục đoạn, Đỗ
trọng, Xuyên khung.
Trong khi trong toa Nhất nhật lục giao, thì chỉ có Vân Qui và Xuyên
Khung là gốc Vân Nam và Tứ Xuyên, còn những vị Tục đoạn, Đỗ trọng,
Kỷ tử thì không nói rõ từ ở đâu
c- Điều này rất quan trọng là phân lượng những thành phần kê ra
trong một toa thuốc Bắc phải dựa trên tình trạng của mỗi bệnh nhân
như thể chất yếu hay khỏe, bịnh trạng nặng hay nhẹ, bệnh tình mới
hay lâu.
Thành ra hai bài thuốc kê trên không phải là loại “one size fits
all”. Do đó, với tư cách người biên khảo vô tư nhưng rất thận trọng
về ý thức trách nhiệm, tôi khuyến cáo bạn đọc không thể đơn phương
quyết định áp dụng sự tự điều trị cho cá nhân mình mà không tham
khảo những vị lương y có thẩm quyền chuyên nghiệp, nhất là những nữ
bệnh nhân mang thai, hay những người có chứng huyết áp cao hay những
rối loạn bệnh lý hiểm nghèo khác.
Một vị thuốc tuy có vẻ hiền lành nào cũng có thể có những phó tác-
dụng bất ngờ nhất là thuốc Bắc chưa được kiểm nghiệm như thuốc hiện
đại trước khi bán ở thị trường.
d- Một điều thứ hai tôi muốn nêu ra về công hiệu của những ngự
tửu.
Trường hợp của Minh Mạng thang với những tên “Nhất dạ ngũ giao” hay
“Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử” có tính cách khoa trương huyền thoại
chăng?
Ta hãy thử duyệt lại số con cái của vua chúa nhà Nguyễn Chín đời
chúa là:
Chúa Tiên Nguyễn Hoàng ( 1525 - 1613) có 12 con: 10 trai và 2 gái
Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên ( 1563- 1635) có 15 con: 11 trai và 4
gái
Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan ( 1601 - 1648) có 4 con: 3 trai và 1 gái
Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần ( 1620 - 1687) có 9 con: 6 trai và 3 gái.
Chúa Ngãi Nguyễn Phúc Thái ( 1650 - 1691) có 10 con: 5 trai và 5 gái
Chúa Minh vương (Quốc chúa) Nguyễn Phúc Chu* ( 1675 - 1725) có 42
con: 38 trai và 4 gái
Chúa Ninh vương Nguyễn Phúc Thụ ( 1697 - 1738) có 9 con: 3 trai và 6
gái
Chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát ( 1714 - 1765) có 30 con: 18 trai và
12 gái
Chúa Định vương Nguyễn Phúc Thuần ( 1753 - 1777) có một gái
[* Chúa Minh vương (Quốc chúa ), theo nhiều sử sách có đến 146 con!]
Nhưng theo Richard Orband trong Les tombeaux des Nguyễn( 1914) và
Nguyễn Phúc tộc thế phả ( 1995) thì ghi là 42 con
Mười ba đời vua là:
Gia long ( 1762 - 1819) có 31 con :13 trai và 18 gái
Minh Mạng (1791 - 1840) có 142 con: 78 trai và 64 gái
Thiệu trị ( 1807 - 1847) có 64 con: 29 trai và 35 gái
Tự Đức ( 1829 - 1883) không có con tuy nhiều vợ
Dục Đức ( 1853- 1883) có 19 con: 11 trai và 8 con gái chết vì bị
giam đói
Hiệp Hòa ( 1847 - 1883) có 17 con: 11 trai và 6 gái chết vì bị ép
uống thuốc độc
Kiến Phúc ( 1869 - 1884) chưa có vợ con , chết bí mật
Hàm Nghi ( 1871- 1943) một vợ, có 3 con: 1 trai và 2 gái
Đồng Khánh ( 1864 - 1889) có 5 vợ, 10 con: 6 trai và 4 gái
Thành Thái ( 1878 - 1954) nhiều vợ, có 45 con: 19 trai và 26 gái**
Duy Tân ( 1900 - 1945) có 2 đời vợ , có 3 trai và 2 gái
Khải Định ( 1885 - 1925) có 1 trai
Bảo Đại (1913 - 1997) có 5 con: 2 trai và 3 gái
[** Riêng Vua Thành Thái là một người phát dục rất sớm. Số con của
ông còn rơi rớt rất nhiều mà thế phả nhà Nguyễn chưa kiểm tra được.
Cung tần chưa đủ cho ngài gần gũi mà còn muốn vi hành ra ngoài nên
mới có câu: Kim luông con gái mỹ miều, Trẫm thương, trẫm nhớ trẫm
liều, trẫm đi!]
Duyệt qua danh sách trên, ta thấy có hai đỉnh cao về con số đông
con:
_ Đỉnh cao thứ nhất trong đời các chúa với Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu
và Võ vương Nguyễn Phúc Khoát ứng vào giai đoạn mà Chúa Nguyễn ở Nam
hà tuyên bố xác định vương quyền độc lập chống lại vua Lê chúa Trịnh
Bắc hà bằng sự dùng vương ấn và lập sẵn kinh đô ở Thuận Hóa.
_ Đỉnh cao thứ hai trong đời các vua với vua Minh Mạng ứng với giai
đoạn tuyên xưng đế quyền tuyệt đối với sự ban bố bài Đế Hệ thi 20
chữ trong tham vọng con cháu của ông sẽ làm vua trong 20 đời nữa.
Chính ý niệm xác định Vương quyền và Đế quyền phải chăng tạo ra nhu
cầu sinh sản nhiều tử tức hậu duệ. Và “bộ máy đẻ” của nhà Nguyễn là
hệ thống cung tần mỹ nữ.
Đời Võ vương, vợ lớn nhỏ của chúa không gọi là Chánh hay Thứ phu
nhân như bá tính mà đổi ra gọi vợ cả là Tả hành lang và vợ thứ là
Hữu hành lang, con cái đẻ ra sợ chuyện ma quỉ bắt ( nạn hữu sanh vô
dưỡng ) nên Chúa mới đặt ra tục gọi các con trai là Mệ, Mụ.
Trong cung cấm nhà Nguyễn, có chín bậc gọi các bà vợ vua từ cao đến
thấp gọi là Cửu giai. Vua nhà Nguyễn không phong vợ lớn là Hoàng Hậu
(trừ vua Bảo Đại sau này) vì sợ nạn quốc thích chuyên quyền như các
triều Lý, Trần , tước hiệu Hoàng Hậu chỉ phong sau khi chết.
Cửu giai là:
Nhất giai Phi
Nhị giai Phi
Tam giai Tân
Tứ giai Tân
Ngũ giai Tiếp Dư
Lục giai Tiếp Dư
Thất giai Quý Nhân
Bát giai Mỹ Nhân
Cửu giai Tài Nhân
và cuối cùng là Tài Nhân vị nhập giai ( nghĩa là chưa vô ngạch mà
chuẩn bị thôi, như chức Chuẩn Úy của quân đội)
Trong thế phả Nguyễn Phúc tộc, tôi thấy một bà Cung Nga có lẽ là
cung nữ chưa vô ngạch Cửu giai!
Chính vì hệ thống phi tần mỹ nữ đã là cho những ông ngự y phải tìm
những thang thuốc bổ thận cho vua chúa và những toa thuốc dưỡng thai
cho các vợ vua khi mang bầu, như thế làm gì không đông con.
Thức ăn ngự thiện đương nhiên gồm những thứ bổ béo mà bá tính cung
tiến .Vua Minh Mạng chỉ sống đến 50 tuổi vì nghe đâu chết vì té
ngựa, thế mà đã có 142 con, nếu vua thọ thêm 20 năm nữa, con cái
trực hệ còn đông đến đâu. Hệ của Minh Mạng là hệ nhì chánh ( hệ nhứt
chánh là hệ hoàng tử Cảnh), là hệ đông nhất gồm 56 phòng và phái nam
đươc 1800 người.
Theo tôi những cái tên Nhất dạ Ngũ giao hay Lục giao của Minh Mạng
thang là những cái tên đời sau bịa ra cho thần kỳ, chứ mỗi khi một
cung phi nào được vua vời tới long sàng thì tên tuổi và ngày tháng
ấy đều được ghi chép cẩn thận để sau này còn chẩn đoán thai kỳ và
xác nhận phụ hệ. Những chuyện về:
Cái đêm hôm ấy đêm gì.
Bóng dương trùng bóng trà mi chập chùng
là chuyện thâm cung bí sử, ai mà rõ “ ngũ giao” hay “ lục giao”.
Trong đống văn khố chứa trong Tàng thơ lâu , giả thử còn lưu lại
những y án hay phương dược của các ngự y dâng lên vua, đâu là tài
liệu xác nhận rằng vào một đêm nào đó có 5 bà phi trong bụng tiếp
nhận “ long chủng” qua lần ân ái với vua và tên những hoàng nam hay
hoàng nữ đó là ai?
Dựa vào kiến thức y học, câu chuyện “lục giao sanh ngũ tử “ có lẽ
là ngoa ngôn hay phóng đại. Chỉ ở trong thần thoại Hy lạp, mới có
thần Hercule trong một đêm gần ... 50 cô gái đã làm thụ thai 49 cô.
Dẫu sao, xét về số con của vua Minh Mạng thì hậu thế phải công nhận
ông thuộc vào loại có khả năng tính dục tuyệt luân.
Tính theo mỗi lần giao cấu chỉ bắn tinh khí ra khoảng 2 phân khối
rưỡi đến 3 là cùng sau nhiều ngày kiêng giao cấu, mà muốn làm thụ
thai, mỗi phân khối tinh khối phải chứa 100 triệu tinh trùng và số
tinh trùng quái dị phải dưới 20 %.
Khối lượng và sự đậm đặc của tinh khí thường giảm xuống mau chóng
sau nhiều lần giao cấu liên tục. Như vậy trong một đêm 5 lần 6 lượt
tính giao thường không phải sinh con mà sinh ra .... bắn súng nước
hay bắn khói!
Theo sử sách, hằng đêm, vua thức khuya để coi chương sớ từ các phiên
trấn gửi về đến canh ba ( 11 giờ khuya) mới đi ngủ. Hoạt động chăn
gối về đêm hăng như thế mà ban ngày vẫn thiết triều, cưỡi ngựa không
biết mệt chứng tỏ Minh Mạng là một người có một “thể chất tiên thiên
“ bẩm sinh cường tráng.
Những toa thuốc mà vua dùng chỉ là trợ lực cho đường sinh lý chứ
không phải là chủ trị quyết định. Xem trường hợp vua Tự Đức (1847-
1883) thể chất tiên thiên bất túc và lúc mới lớn bị đậu mùa, dù là
vua có nhiều vợ và được các ngự y chữa trị vẫn không có con.
Nhìn vào thành phần những món thuốc trong hai toa Minh Mạng thang
nói trên, tôi thấy toàn là những vị bổ dược mà tiệm thuốc bắc nào
cũng có và hiệu lực của chúng theo y lý được coi là tư âm bổ dương,
tăng cường tinh khí, nâng đỡ thể trạng chứ không phải là những thức
khích hứng nhất thời làm cương cử ngọc hành hay những vật liệu chế
từng những tạng phủ hay bộ phận của những thú vật nổi tiếng mạnh về
sinh lý.
Thành ra Minh Mạng thang là một loại bổ dược chống mệt mỏi tổng
quát, chứ không giống như những viên thuốc hứng dục ( aphrodisiac)
như viên Okasa dạo nào của Pháp chứa Testostérone và Yohimbine,
Cantharidine hay những viên Viagra hiện nay chỉ có tác dụng cục bộ
làm cương cử ngọc hành.
Nhiều y sĩ cho rằng sự mệt mỏi thường là nguyên nhân làm giảm hứng
thú khi ân ái. Vua Minh Mạng vốn là một người có thực lực tính dục
quán chúng do bẩm sinh nên vấn đề dùng thuốc bổ là một sự trợ lực.
Nếu phàm nhân tục tử vốn liếng chẳng bao nhiêu không biết tự lượng
sức mình, mỏi gối chồn chân mà cứ dùng thuốc khích hứng để tiếp tục
trèo thì quả là tai hại!
Nhận định về công hiệu của Minh Mạng thang.
Vấn đề này cần một sự khảo sát và phân tích thâm cứu dựa trên
những dữ kiện khoa học mà hiện nay chưa có. Tôi nghĩ rằng một ý kiến
có thẩm quyền nhất là ý kiến của bác sĩ Nhật Akira Ishihara. Ông đã
cọng tác với Howard S. Levy là đồng tác giả cuốn The Tao of Sex.
Cuốn sách này rất hay vì dựa vào nhiều tài liệu hiếm quí về tính dục
học cũng như y dược của Trung Hoa và Nhật bản. Y dược Á Đông theo
nguyên lý Âm Dương Ngũ hành và được chế biến từ những nguyên liệu từ
thiên nhiên mà hiện nay chưa có một sự phân chất thí nghiệm qui mô.
Dược liệu Trung Y qua hơn 5 ngàn năm lịch sử từng chứng tỏ công hiệu
trên nhiều phương diện.
Ví dụ như Nhung gạt hươu non chứa nhiều kích thích tố , dùng trích
tinh để thí nghiệm trên chuột thì thấy chuột tăng cường về sinh lý
rõ ràng. Nhục thung dung là một loại nấm chứa nhiều Manganese thường
có trong nhiều thuốc khích dục. Thành ra không phải y dược Á đông
không có hiệu nghiệm, nhưng hiệu nghiệm này còn rất ẩn áo hầu như có
tính chất huyền thoại, phải theo kinh nghiệm lâu đời (empirical) của
cổ nhân mà dùng lâu ngày mới thấy. Một yếu tố đáng kể là thể tạng
của từng bệnh nhân đã đáp ứng ra sao với sự trị liệu nên thuốc dùng
cho người này thì tốt mà dùng cho kẻ khác thì không. Vấn đề tâm lý
của người dùng thuốc( linh tại ngã, bất linh tại ngã) cũng là một
yếu tố quyết định.
Tôi tự xét, không học gì về Đông Y mà chỉ là con mọt sách, ghi chép
lượm lặt để viết lách, nên kính mong sự chỉ giáo của các bậc cao
minh.
Tôi còn nhớ trước 1975 có đọc quyển Vạn thị Phụ Nhân khoa do ông
Nguyễn văn Tỷ chủ nhà thuốc Hồi Xuân đường Nguyễn thiện Thuật, Bàn
cờ Sài gòn. Trong sách có một đoạn bàn về các toa thuốc bổ tính dục
và bí quyết sinh quí tử mà tôi viết lại theo trí nhớ:
Đàn ông muốn sanh quí tử phải đạt đủ ba điều kiện trên ba tiêu chuẩn
gọi là Tam chí ( Can chí, Tâm chí, Thận chí). Can tức là gan. Can
chủ về mộc cân tức là gân. Gân khỏe ( Can chí) thì gân mới đủ sức
cương cử mà hành sự; Tâm tức là tim, chủ về huyết hỏa hay năng
lượng. Tim tốt ( Tâm chí) thì trí não quân bình, năng lực phương
cương, sức lực bề dai, tinh trùng mới đủ sức bơi ngược giòng tử cung
để thụ thai:
Thận tức là cơ quan tính dục gồm dịch hoàn và các hạch nội tiết nang
thượng thận, chủ về thủy, tức là tinh khí. Thận khỏe ( Thận chí) thì
tinh khí đặc, chứa nhiều tinh trùng nên dễ thụ thai.
Suy diễn như trên, ta thấy sự tính giao lý tưởng là một độ cương
dương vật đầy đủ, một trí óc quân bình, một nguồn sản xuất tinh khí
dồi dào về phẩm và lượng. Như thế, một người thận yếu, tinh khí
loãng, cợ thể bạc nhược, gân thịt bèo nhèo mà dùng thuốc khích hứng
chẳng khác nào quất roi thúc con ngựa còm ròm tiến bước trên con
đường xa gập ghềnh.
Một toa thuốc bổ dương hoàn toàn không phải là một toa thuốc chỉ bổ
thận khích dục mà theo biện chứng của Đông Y phải là nhắm vào chủ
đích bổ dưỡng toàn thân, bằng cách bồi bổ ba nội tạng Can, Tâm,
Thận. Tôi nghĩ đây là một minh chứng về quan niệm khác nhau giữa Tây
Y và Đông Y:
*Tây Y chủ trương đánh thẳng và mau vào ngọn nên hữu hiệu vào những
trường hợp cấp tính
*Còn Đông Y đánh bền và lâu vào gốc bệnh ly, nên thích hợp cho các
chứng kinh niên mạn tính.
Nhìn chung, dùng rượu thuốc là một tập quán, một đặc thù văn hóa của
dân Việt ta đã chịu ảnh hưởng của Trung Hoa qua nhiều thế hệ. Tuy
nhiên, sống trong thời hiện đại, người ta phải có một thái độ suy
luận thận trọng trên thực tế khi phải dùng thuốc, ngay cả khi dùng
thuốc bổ không phải thuốc bổ nào cũng tốt cả như „ one size fits
all“ như cái tên khoa trương „ ngũ giao“, „ lục giao“... Một vị
thuốc nào cũng vậy, bên cạnh công năng trị liệu, còn có thể có nhiều
"phó tác dung".
Rượu làm khí huyết lưu thông (Tửu năng dẫn huyết) nhưng đối với
những người có chứng huyết áp cao và chứng thống phong ( gout) thì
không nên dùng. Tóm lại, rượu thuốc vẫn là rượu bổ nhưng nên dùng
thận trọng.
BS Lê Văn Lân